^Back To Top

  • 1 Những cung đường hùng vĩ ở Việt Nam
    Những cung đường Tây Bắc uốn lượn bên cạnh đồi núi ruộng bậc thang tạo nên khung cảnh núi rừng hùng vĩ và ngút ngàn khiến du khách nào đặt chân đến cũng phải trầm trồ. (Tác giả: Trần Trung Hậu)
  • 2 Những cung đường hùng vĩ ở Việt Nam
    Những mùa hoa miền núi phía Bắc Việt Nam đã làm say lòng biết bao du khách trong và ngoài nước. Một trong số những điểm đến đẹp nhất để thưởng ngoạn vẻ đẹp tự nhiên này chính là Hà Giang, mảnh đất địa đầu tổ quốc. (Tác giả: Phạm Thị Thu Hà)
  • 3 Những cung đường hùng vĩ ở Việt Nam
    Nói đến những thác nước đẹp của Việt Nam không thể bỏ qua cái tên Bản Giốc, Cao Bằng. Tới đây du khách sẽ được thỏa thích ngắm nhìn cảnh sắc hùng vỹ và thơ mộng của từng dòng thác từ trên cao đổ xuống sông Quây Sơn trong xanh, êm đềm dưới chân thác đẹp như một bức tranh thủy mặc. (Tác giả: Bùi Tuấn Hùng)
  • 4 Những cung đường hùng vĩ ở Việt Nam
    Thời điểm tháng 5, tháng 6 hàng năm khi những cánh đồng lúa nước bắt đầu trổ bông, tô màu vàng rực rỡ cho đôi bờ dòng sông Ngô Đồng cũng là lúc du khách hay các nhiếp ảnh gia khắp nơi đổ về chiêm ngưỡng và "săn" hình. (Tác giả: Nguyễn Văn Khánh)
  • 5 Những cung đường hùng vĩ ở Việt Nam
    Nếu đã từng đến với mảnh đất Đà Lạt, ngoài vẻ đẹp rực rỡ của ngàn hoa, du khách sẽ không khỏi ngạc nhiên về khoảng khắc nắng mai ngập tràn trên những rừng thông. (Tác giả: Thái Bình Minh)
Tư vấn

Tâm lý, Kỹ năng mềm, Kỹ năng tìm việc...


Bộ môn Tâm lý - Giáo dục

Trường Đại học Hà Tĩnh

Cuộc Hội ngộ và Tri ân ấm áp, lấy đi nhiều nước mắt của thầy trò Trường cấp 2 Năng khiếu Nghệ Tĩnh sau gần nửa thế kỉ giải thể, do các thế hệ học trò khởi xướng và đứng ra chủ trì tổ chức, diễn ra ngày từ 24 -25/03/2023  trên quê hương Nguyễn Du, Hà Tĩnh. Bài viết ghi lại những cung bậc cảm xúc của thầy trò trong Lễ Tri ân và Hội ngộ.

 

Ảnh: Thầy trò trong Lễ Tri ân

Đây là ngôi trường đặc biệt nhất cả nước - Trường Cấp 2 Năng khiếu Nghệ Tĩnh,  ra đời sau khi đất nước thống nhất, tỉnh Nghệ Tĩnh được thành lập và tuyển chọn học sinh có năng  khiếu Văn, Toán chỉ tồn tại trong 5 năm (1977-1982), một thời gian có thể nói là rất ngắn với hai lớp Chuyên Văn và Chuyên Toán  (từ lớp 6 đến lớp 7, khóa cuối thêm lớp 5). Một ngôi trường Tỉnh, với mái tranh vách nứa, với sân trường cát lún ngập chân với một quãng thời gian quá ngắn ngủi! Đi qua dài rộng tháng năm, những gì ở lại trong lòng người, thì quá đỗi lớn lao, đẹp đẽ! Nhiều học sinh muốn về thăm Trường thì nay không còn Trường, Trường xưa chỉ còn trong kí ức, muốn thăm thầy cô thì liên lạc hết sức khó khăn, một số thầy cô đã về cõi Phật, có người tuổi cao, sức yếu đã lẫn lộn nhiều thứ trong hiện tại nhưng khi nhắc về một thời của Trường Năng khiếu cấp 2 Nghệ Tĩnh vẫn nhớ đầy đủ họ tên các đồng nghiệp và một số học sinh cũ. Điều đặc biệt của hội ngộ và tri ân lần này là biến cái tên gọi Trường tưởng chừng như quên lãng sau gần nửa thế kỉ thành cái tên gọi trong sâu thẳm TIỀM THỨC.

Những câu hát, lời thơ của thầy cô viết về trường, viết cho học trò trên 40 năm về trước lại vang lên trong tâm trí chúng tôi: 

“Bao tháng ngày mơ ước

Hôm nay em tới trường

Trường Năng khiếu Nghệ Tĩnh

Quê Bác Hồ Chí Minh…” [1]

                   ***

“Có ai bảo: chim khôn rời khỏi tổ

Chim bay đi, trơ lại những cành cây

Tôi sẽ bảo: chính niềm vui ở đó

Từ cành kia chim vạn hướng tung bay…” [2]

 

Ảnh: Các thế hệ học trò trong ngày Hội ngộ  

Từ cành kia chim vạn hướng tung bay…! Thế rồi, cuộc đời náo nức kéo chúng tôi đi về muôn ngả, kẻ trời Tây, người ở lại với muôn vị trí công tác trong xã hội. Mải miết trong dòng chảy cuộc đời, đến gần xế chiều, bổng giật mình hoảng hốt nhớ trường xưa, nhớ thầy, nhớ bạn. Cảm thấy lòng đầy tội lỗi chưa kịp tri ân thầy cô cho cái chữ, cho nhân cách, những cô bác phục vụ cho cái ăn, cái ở năm nào! 

Trong số gần 300 học sinh của các khóa, “chúng tôi lớn lên mỗi người một ngả”, theo những lối rẽ khác nhau, có nhiều người thành đạt, thành công trong sự nghiệp, có những bạn không may mắn, gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Nhưng trong cuộc hội ngộ này ai cũng có cùng một cảm giác bình đẳng để cùng lên một chuyến tàu trở về với tuổi học trò đáng yêu, đáng nhớ của ngày xưa. Điều đặc biệt trong cuộc hội ngộ này không có bất kì một lời giới thiệu nào về ông này, bà nọ, các chức danh hay nhà tài trợ…, chỉ hỏi nhỏ và rỉ tai nhau mới biết được về nhau vì đằng đẳng chân mây, cuối trời lâu rồi. Trong Hội trường đã bỏ hết ra ngoài những chức tước, địa vị, bằng cấp…, không còn bóng dáng những vị giáo sư, tiến sĩ, tướng tá hay Ủy viên Ban thường vụ… Tất cả chỉ còn là những cô cậu học trò nghịch ngợm, tinh nghịch ngày xưa với áo trắng và Khăn quàng đỏ ngập tràn cảm xúc trong không khí kỉ niệm, chỉ với hai chữ: THƯA THẦY!, và cúi đầu tạ lỗi với những người thầy yêu thương đã đi xa! .

40 năm thấm thoắt thoi đưa! “Đời mau quá vui buồn chưa kịp cũ” [3]. Bao cảm xúc ùa về những kỉ niệm đẹp của tuổi học trò, tuổi thơ áo trắng và Khăn quàng đỏ, thời được Nhà nước nuôi ăn học bằng bột mì, khoai sắn, bo bo… trong bối cảnh đất nước và quê hương xứ Nghệ vô cùng khó khăn bởi chiến tranh, thiên tai, bão lụt, cơm chạy bữa. Những đứa trẻ non nớt ở tuổi 11, 12, xa gia gia đình, xa vòng tay bố mẹ từ nhiều huyện thị hội tụ về Trường, ở nội trú, dưới những mái nhà tranh tre, nứa, mét cực khổ mà vui vẻ, ấm áp trong tình thương yêu của thầy cô và bạn bè. Trong gió cát, trong đói khổ, trong gian lao, ước mơ, khát vọng, hoài bão cứ thế được thầy cô chăm chút, dưỡng nuôi, chắp cánh từng ngày.

Những đứa trẻ ngày đó giờ tóc đã điểm bạc, nhiều người đã lên ông, lên bà, nhưng gặp nhau cứ ríu rít, bá cổ, ôm vai, những cái ôm thật chặt cùng nụ cười và những giọt nước mắt sau hơn 40 năm gặp lại! Giờ đây, khi đã qua muôn nẻo của cuộc đời rộng lớn, phút giây gặp lại, tất cả cứ thế trào dâng, vỡ oà!

Xúc động nhất là những giọt nước mắt nén chịu cố không để rơi trên gương mặt của thầy cô,  thầy Trần Hữu Huỳnh, day dứt: “Những năm tháng học tập ở Liên Xô, thầy cứ day dứt mãi: tại sao lại để những đứa trẻ 11, 12 ,13 tuổi phải rời vòng tay cha mẹ, sống xa gia đình , phải ăn đói mặc rét như vậy? Thêm được cái chữ cái nghĩa, nhưng sức khoẻ của các em thì rất ảnh hưởng. Thương lắm! Và, liệu mình đã bao giờ làm điều gì không phải với các em không !”.   

Bạn Lê Quang Khánh, một cựu học sinh, là Liên đội trưởng ngày ấy, thay cho lời muốn nói của bao thế hệ:

“Như đứa con lưu lạc trở về nhà

Hạnh phúc, rưng rưng, mắt nhoà, tay nắm

Công thầy cô nuôi dạy em , dày lắm!

Đến cuối đời em vẫn cứ nặng vay

Giếng trường xưa càng múc lại càng đầy

Thương nhớ cũ đến nay chưa hề cạn…

Chưa hề, và sẽ không bao giờ cạn!

Hội ngộ và ngày Vui khép lại, để rồi khoảng trời trong veo thuở ấy… lại càng dài rộng thêm theo nỗi nhớ niềm thương!

Có người bảo: Chắc không phải ai cũng may mắn có được cuộc hội ngộ thấm đẫm tình thầy trò và đầy cảm xúc như vậy!  

                                                          

[1]. Lời của Bài ca Năng khiếu Nghệ Tĩnh của cô giáo Lê Kim  Đức (Giáo viên nghỉ hưu)

[2]. Lời của bài thơ Có ai bảo  của thầy Lê Đình Thanh (đã mất)

[3]. Thơ Hữu Thỉnh.       

                                                             Hà Tĩnh, mùa Xuân 2023

                                                                             Văn Tịnh

                                                                          Cựu học sinh   

Usinxki “Nhân cách của người thầy là sức mạnh có ảnh hưởng to lớn tới học sinh, sức mạnh đó không thể thay thế bằng bất kỳ cuốn sách giáo khoa nào, bất kỳ một câu chuyện châm ngôn đạo đức, bất kỳ một hệ thống khen thưởng hay trách phạt nào khác”.

 

                   Giảng viên quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo.

                                                                        Hình ảnh lấy từ Chinh phu.VN

Mô hình tích hợp chung các phẩm chất của nhà sư phạm có thể được xem như là một hệ thống các phẩm chất nhân cách, mỗi phẩm chất của nó dùng để hiện thực hóa các lĩnh vực hoạt động sư phạm.

Theo C. D. Reznik, toàn bộ những phẩm chất cần thiết của giảng viên đại học được thể hiện mô hình khái quát, gồm 5 block:

  1. Tinh thông nghề nghiệp;
  2. Phẩm chất đạo đức;
  3. Năng lực tổ chức
  4. Sự năng động
  5. Kỹ năng điều chỉnh bản thân

Đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong cấu trúc phẩm chất của người giảng viên là sự tinh thông nghề nghiệp, trong đó gồm có 8 nhóm phẩm chất: Trình độ cao về kiến thức, kỹ năng theo chuyên ngành, văn hóa phương pháp luận, văn hóa hoạt động khoa học, văn hóa thông tin, văn hóa hoạt động giáo dục, văn hóa lời nói, văn hóa chính trị. Mỗi nhóm trong số đó phải bám hoàn toàn vào những phẩm chất hàng đầu. Ví dụ: Nhóm trình độ cao về tri thức, kỹ năng, kỹ xảo thì những phẩm chất hàng đầu phải có là: Kiến thức về: tâm lý học và giáo dục; lịch sử và phương pháp luận dạy các môn; phương pháp dạy học; phương pháp tổ chức hoạt động độc lập của sinh viên và chẩn đoán các kiến thức của họ;cách thức tổ chức hoạt động học tập; các nguyên tắc xây dựng kế hoạch và tóm tắt bài học; Kiến thức cao về môn học mình dạy; Biết vận dụng một cách sáng tạo những kiến thức tích lũy được; năng lực tư duy cao; sự uyên bác…[ 2,19].

Ngoài ra, để thực hiện tốt chức năng của mình, người giảng viên hiện đại cần có những thành tố cụ thể của tài nghệ sư phạm: kỹ năng phối hợp với mọi người ở các mức độ (sinh viên, đồng nghiệp, lực lượng hỗ trợ, nhóm khoa học, người đứng đầu, v.v…; thiết lập các mối quan hệ công việc và sáng tạo với đồng nghiệp; biết sử dụng ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết để tác động đến sinh viên và đạt được hiệu quả hiểu biết lẫn nhau; trở thành người có năng lực tiếp nhận, chiếm lĩnh và sử dụng thông tin.

Nhà sư phạm lỗi lạc Nga V.A. Slastionin, trong tham luận tại Hội thảo quốc tế “Sư phạm giáo dục: tiếng gọi của thế kỷ XXI, tổ chức tại Moskva ngày 16-17 tháng 9 năm 2010, đề xuất 6 phẩm chất và đặc điểm của nhà sư phạm ngày nay, đó là:

- Tính tích cực công dân và trách nhiệm xã hội cao của nhà sư phạm. Theo ông, một người thầy như thế này không bao giò thờ ơ, vô cảm với trẻ em, với số phận của trẻ. Định hướng quan trọng nhất hoạt động của họ - trách nhiệm nghề nghiệp cao cả.  

  • Tình yêu đối với trẻ, có nhu cầu và khả năng hiến dâng trái tim cho trẻ
  • Trí tuệ, văn hóa tinh thần, mong muốn và biết làm việc với người khác
  • Tay nghề cao, phong cách sáng tạo tư duy khoa học sư phạm
  • Có nhu cầu thường xuyên tự đào tạo và sẵn sàng đối với việc này
  • Có sức khỏe tâm lý và tinh thần, năng lực nghề nghiệp  [3].

Thiết nghĩ, đây là những phẩm chất mà quan trọng và cần thiết đối với giảng viên đại học trong xã hội hiện đại mà bất kỳ quốc gia nào cũng phải quan tâm đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên.       

Hiệu quả hoạt động của người giảng viên phụ thuộc trực tiếp vào việc đào tạo nghề của họ, nó đòi hỏi những phẩm chất tương ứng với hoạt động thực tiễn. Nhà tâm lý học nổi tiếng Xô Viết K.K. Platonov khẳng định: “Đào tạo nghề chuyên gia - đó là một trạng thái khách quan của con người, khi cho rằng mình đủ năng lực và sẵn sàng đối với việc thực hiện hoạt động nghề nghiệp tương ứng”.

Đào tạo nghề giảng viên đòi hỏi được trang bị kiến thức các môn chung cũng như các môn chuyên ngành (Môn chung gồm: Tâm lý học và giáo dục học, bản chất của tâm lý  dạy học phát triển, cấu trúc hoạt động dậy học, phương pháp luận và cơ sở tâm lý quá trình giáo dục, các loại hoạt động chủ đạo và các đặc điểm tâm lý của lứa tuổi; các môn chuyên ngành: Lịch sử và phương pháp luận dạy học bộ môn; phương pháp dạy học; phương pháp tổ chức hoạt động độc lập và phát triển năng lực sáng tạo của người học; tổ chức hoạt động học tập cho sinh viên…). Đây là những yêu cầu nằm trong chương trình bắt buộc và tự chọn của các trường.

Cũng như các nước, chúng ta cũng đòi hỏi rất cao, khắt khe  về phẩm chất và năng lực của người giảng viên, phản ánh rất rõ trong. Điều 24 Điều lệ Trường đại học Việt Nam (2010)  về tiêu chuẩn giảng viên:

  1. Có phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt
  2. Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm. Có bằng thạc sỹ đối với giảng viên giảng dạy các môn lý thuyết của chương trình đào tạo đại học; có bằng tiến sỹ đối với giảng viên giảng dạy và hướng dẫn chuyên đề, luận văn, luận án trong các chương trình đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ;
  3. Có trình độ ngoại ngữ, tin học đáp ứng yêu cầu công việc
  4. Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp
  5. Lý lịch bản thân rõ ràng. [1].

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Điều lệ trường đại học (Việt Nam)
  2. Reznik, C.D, O.A. Vdovina (2010), Giảng viên đại học: Công nghệ và tổ chức hoạt động, Moskva.  
  3. Slastionin V.A, Sư phạm giáo dục - Tiếng gọi của thế kỷ XXI”

Giáo dục lòng yêu nước là một trong những nhiệm vụ quan trọng của mỗi quốc gia. Hơn bao giờ hết, đây là cũng là nhiệm  vụ cần thiết, cấp bách đối với mỗi dân tộc và đặc biệt trong bối cảnh xã hội hiện đại với nhiều biến động, nhiều giá trị sống đã thay đổi, đặc biệt là đạo đức, tư tưởng, lối sống của thế hệ học sinh, sinh viên trong nhà trường.

  1. Giáo dục lòng yêu nước cho học sinh - nhiệm vụ quan trọng, cấp bách

Trong giai đoạn hiện nay, giáo dục lòng yêu nước cho học sinh, thế hệ đang lớn lên nhằm có nhận thức, thái độ và hành động đúng đắn, lòng tự hào, tự tôn dân tộc sâu sắc; khát vọng, hoài bão, ý chí thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” là nhiệm vụ hết sức quan trọng. Đây là một nội dung quan trọng trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo Người, mục tiêu của học tập là học để phục vụ nhân dân, phục  vụ cách mạng, muốn làm được điều đó thì trước hết thì phải có lòng yêu nước và ý thức dân tộc ngay từ lứa tuổi thiếu niên nhi đồng. Điều này thể hiện trong 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên nhi đồng, mà điều đầu tiên chính là yêu Tổ quốc, yêu đồng bào.

Yêu nước, một trong những giá trị cốt lõi được đưa vào  Chương trình giáo dục phổ thông mới (2018) bên cạnh nhân ái, trung thực, chăm chỉ, trách nhiệm để giáo dục rèn luyện cho học sinh hiện nay trong nhà trường.

Như vậy, giáo dục lòng yêu nước là quá trình chuyển hóa từ lòng yêu nước dân  tộc thành lòng yêu nước cá nhân. Đây là quá trình phát triển lòng yêu nước của  cá nhân, giúp họ có nhận thức và hành động đúng đắn trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước. Có thể thấy giáo dục học sinh về lòng yêu nước trong thời kỳ đổi mới và hội nhập phải gắn liền với tinh thần dân tộc, tình cảm dân tộc, tình yêu gia đình, yêu quý và bảo vệ môi trường. Cần gắn chủ nghĩa yêu nước với tình yêu con người, truyền thống văn hoá dân tộc, truyền thống cách mạng của Đảng quang  vinh và Bác Hồ vĩ đại. Cùng với ý chí quyết tâm xây dựng con người Việt Nam, phát triển toàn diện, trưởng thành mọi mặt, xứng đáng là nguồn nhân lực  chất lượng cao của công cuộc đổi mới đất nước, làm chủ quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và tham gia tích cực, có hiệu quả hội nhập quốc tế.

  1. Giáo dục lòng yêu nước cho học sinh trong dạy học Lịch sử

Giáo dục góp phần to lớn vào việc “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài để hình thành đội ngũ công nhân lành nghề, có năng lực hành nghề, tự lực tự cường, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội”.

Luật Giáo dục khẳng định: Mục tiêu giáo dục là phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế (Điều 2 Luật Giáo dục).

Có thể nói, sự nhất quán trong quan điểm giáo dục của Đảng và Nhà nước là luôn coi trọng giáo dục lý tưởng đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tình yêu gia đình, tình yêu quê hương đất nước. Trong trường học, lịch sử là môn học chiếm ưu thế trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục lòng yêu nước.

Giáo dục lòng yêu nước phải bắt nguồn từ tình cảm yêu gia đình, ông bà, cha mẹ, truyền thống anh dũng, bất khuất của dân tộc, tự hào với quá khứ hào hùng của dân tộc.

Ưu thế trong dạy học môn Lịch sử là có thể dễ dàng tiếp cận và giáo dục lòng yêu nước cho học sinh. Đặc điểm nổi bật của môn Lịch sử là nhằm dựng lại một bức tranh toàn cảnh về quá khứ một cách sống động, khách quan, về truyền thống đấu tranh bất khuất trong dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam anh hùng. Mỗi bài học lịch sử có thể gợi lên những thăng trầm của Tổ quốc, gợi lên tiếng gươm khua, ngựa hí, rợp bóng cờ chiến thắng thấm đẫm những giọt nước mắt đắng cay. “Lịch sử không chỉ giáo dục cho học sinh tình cảm yêu ghét trong đấu tranh giai cấp mà còn bồi dưỡng cho các em năng lực đối xử với mọi người xung quanh, biết yêu quý cái đẹp, yêu lao động, sự căm thù quân cướp nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, khơi dậy ở học sinh sự thông cảm sâu sắc và lòng kính yêu đối với quần chúng nhân dân”.

Môn Lịch sử và Địa lí ở tiểu học nói chung và phân môn Lịch sử  nói riêng cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về một số sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu theo dòng thời gian lịch sử của Việt Nam. Từ đó, khơi dậy lòng yêu nước, hình thành thái độ đúng đắn với bản thân, gia đình, cộng đồng, kích thích sự ham hiểu biết khoa học của học sinh, phát huy mọi khả năng xây dựng một tương lai xứng đáng với lịch sử dân tộc.

Đối với nhà trường tiểu học hiện nay, thực hiện tốt nhiệm vụ này sẽ góp phần quan trọng vào việc hoàn thành mục tiêu đào tạo con người mới xã hội chủ nghĩa, có lòng yêu nước và tinh thần quốc tế. Tuy nhiên, theo Viện trưởng Viện Triết học Viện Hàn lâm Khoa học xã hội, hiện nay, ở tầm vĩ mô, Việt Nam đang thiếu một chiến lược giáo dục ý thức dân tộc; ở tầm vi mô, chúng ta đang thiếu chương trình, giáo trình, công cụ, phương pháp và đội ngũ nhà giáo - những người trực tiếp truyền lửa, giáo dục lòng yêu nước và ý thức dân tộc cho thế hệ trẻ. Khách quan mà nói, tuy chưa có chiến lược giáo dục ý thức dân tộc, song ý thức dân tộc và tinh thần yêu nước vẫn được giảng dạy thường xuyên trong môi trường giáo dục, nhất là thông qua lồng ghép trong các môn học. Cũng theo ông, giáo dục ý thức dân tộc không chỉ dừng lại ở sách vở, mà phải thật sự đi vào chiều sâu, tạo nên những chuyển biến tích cực trong nhận thức, tình cảm và hành vi của thanh, thiếu niên. Điều đó có nghĩa, tinh thần dân tộc, chủ nghĩa yêu nước phải luôn hiện hữu trong tâm trí và trái tim thế hệ trẻ Việt Nam, sẵn sàng chuyển hóa thành những hành động cụ thể và thiết thực.

 Tóm lại: Giáo dục lòng yêu nước, giáo dục lòng tự hào dân tộc cho học sinh  thông qua dạy học Lịch sử là một bộ phận của giáo dục toàn diện giúp cho các em hiểu biết được nội dung, ý nghĩa của lòng yêu nước, lòng tự hào của dân tộc mình qua môn học Lịch sử. Giáo dục ý thức của các em đối với Tổ quốc nhằm nâng cao nhận thức, sự hiểu biết của các em với lòng yêu nước, tự hào về dân tộc mình, từ đó giúp các em bồi đắp tình cảm lòng biết ơn đối với thế hệ cha anh, tôn trọng, yêu quý học tập và phấn đấu rèn luyện bản thân mình trở thành con ngoan, trò giỏi, bạn tốt, đội viên tốt, người công dân tương lai của đất nước, góp phần xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Lukinova A.V (2004), Lòng yêu nước trong các tư tưởng giáo dục thế giới trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học

Các kết quả nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn đều khẳng định vai trò quan trọng của việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1. Tuy nhiên, tế thực hiện tại các trường mầm non, do những điều kiện khách quan và chủ quan, trẻ vẫn chưa được chuẩn bị tốt các điều kiện để vào lớp 1. Để chuẩn bị cho bé vào lớp 1 một cách tự tin và vững vàng nhất, cần chuẩn bị cho trẻ sự sẵn sàng cả về mặt thể chất và tâm lí, đội ngũ giáo viên mầm non có vai trò rất quan trọng.

  

Cô và các cháu Trường mầm non IvyHSchool - Đại học Hà Tĩnh

Có một thực tế là để vượt qua “cửa ải” lớp 1, trẻ không chỉ gặp khó khăn với các nhiệm vụ học tập, đặc biêt là học đọc, học viết và tính toán mà trẻ còn phải thích nghi với cuộc sống ở trường tiểu học như: chế độ sinh hoạt, các hành vi văn hóa, các mối quan hệ ở trường tiểu học… Ngoài ra, trẻ cần được hình thành hứng thú học tập, làm quen với các hoạt động trí óc để phục vụ việc học có hiệu quả như: tư duy, ngôn ngữ, ghi nhớ có chủ định…  Tuy nhiên, trong thực tế, có một bộ phận cha mẹ học sinh vì quá lo lắng, quá nóng vội nên đã “sắm sửa” cho trẻ những “hành trang” không cần thiết, thậm chí rất sai lệch như: dạy trước cho trẻ những bài trong chương trình, sách giáo khoa lớp 1, bắt trẻ học trước cả mấy tháng hè, kể cả đánh vần, tập viết, làm toán, kể chuyện, thậm chí cả các tài liệu tham khảo, nâng cao! Chính vì vậy khi bước vào lớp 1 trẻ sẽ rất nhàm chán, mất hứng thú, chủ quan, không tập trung ngay khi các con phải học những bài học đầu tiên mà không có gì mới mẻ, thích thú. Nhiều cha mẹ học sinh dạy trước cho con nhưng lại chưa nắm được kĩ thuật tập viết, bắt con cầm bút bi, bút mực quá sớm. Cầm bút sai (kĩ thuật và khoảng cách) từ đầu sẽ trở thành cố tật khó khắc phục, chắc chắn sẽ dẫn đến viết chậm, viết xấu và ngại viết.

Công tác chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 là một quá trình được tiến hành công phu, toàn diện từ khi trẻ bắt đầu vào trường mầm non. Đây là trách nhiệm của tất cả giáo viên ở tất cả các nhóm, lớp. Nội dung, nhiệm vụ  của chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 gắn liền với công tác chăm sóc, giáo dục của nhà trường là thực hiện tốt chế độ sinh hoạt một ngày của trẻ, chuẩn bị tốt cho trẻ  về 5 lĩnh vực phát triển, chuẩn bị cho trẻ những kỹ năng cần thiết của hoạt động học và giúp trẻ có một tinh thần, tâm thế tốt khi tham gia vào các hoạt động. Hiệu quả công tác chuẩn bị cho trẻ vào trường tiểu học phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, song người giáo viên mầm non đóng vai trò then chốt và quyết định. Điều đó đặt ra cho mỗi giáo viên ở các cơ sở giáo dục mầm non  là cần xác định rõ hơn vai trò, trách nhiệm của mình trong việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 trong bối cảnh hiện nay. Ngoài ý thức, trách nhiệm và sự nỗ lực của bản thân giáo viên, việc tổ chức bồi dưỡng nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng cần thiết cho đội ngũ giáo viên ở các trường là hết sức cần thiết, nhờ đó có thể chuẩn bị tốt các điều kiện cho trẻ bước sẵn sàng vào lớp 1.

Tóm lại, chuẩn bị tâm thế cho trẻ vào lớp 1 là một quá trình lâu dài và đòi hỏi sự tâm huyết, năng lực của đội ngũ giáo viên, sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường. Vì vậy, trong chương trình giáo dục của nhà trường cần quan tâm đến các nội dung liên quan đến công tác chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1

"Trẻ cậy cha, già cậy con". Thường khi về già, tuổi cao sức yếu, cha mẹ cần nơi nương tựa, mà chỗ nương tựa tốt nhất vẫn là con cái. Lúc này cũng là cơ hội tốt nhất cho con cháu có điều kiện báo hiếu cha mẹ. Chính vì thế, có nhiều người khi tuổi cao họ thường sống vùng con cái không chỉ vì mong ở con cái sự giúp đỡ trong những lúc khó khăn, ốm đau, bệnh tật ...

Xem thêm: Người già không thích sống phụ thuộc con cái?

Tư vấn tâm lý

Copyrigcht © 2013 Bộ môn Tâm lý - Giáo dục, Trường Đại học Hà Tĩnh